Trong tinh thần nhằm trang bị cho trẻ em « có nguy cơ Tự Kỷ », những dụng cụ và điều kiện cần thiết để đi vào lãnh vực ngôn ngữ, bài chia sẻ nầy sẽ lần lượt khảo sát và đề nghị cần nắm vững 3 bài học sau để phát huy ngôn ngữ cho trẻ:

– Bài học thứ nhất : Những bài học lắng nghe, tiếp thu và hiểu biết ý nghĩa của một số tình huống trong cuộc sống hằng ngày,
– Bài học thứ hai : Những bài học bắt chước kẻ khác, trong lãnh vực điệu bộ, cử chỉ… còn mang tên là « ngôn ngữ không lời »
– Bài học thứ ba : Những bài học chuẩn bị phát âm và sử dụng ngôn ngữ, nếu những cơ quan liên hệ đến vấn đề phát âm không bị thương tổn

Sau đây là một số bài tập nhằm hỗ trợ phụ huynh/ giáo viên giúp phát huy ngôn ngữ cho trẻ

Phần thứ Nhất : Những bài học về nghe và hiểu biết

Nền tảng để phát huy ngôn ngữ cho trẻ (phần 1)
Để có thể khởi đầu những bài học nầy, trẻ em cần được khám xét về mặt chuyên môn y khoa, nhất là trong lãnh vực Tai-Mũi-Họng và Hệ Thần Kinh trung ương.

Hẳn thực, để có thể biết nghe và hiểu,

– Trẻ em không « khiếm thính » : những cơ quan và đường giây thần kinh có liên hệ đến thính giác, vẫn nguyên vẹn.

– Trẻ em không thuộc diện « bại não » : thùy Thái Dương thuộc hệ thần kinh trung ương có liên hệ đến thính giác vẫn hoạt động bình thường. Thùy Trán có phần vụ điều khiển những cử động và phản ứng không bị tổn thương.

1.-Bài học thứ nhất : Ghi nhận và phát huy những phản ứng đối với những loại tiếng động và âm thanh, trong nhiều tình huống khác nhau.

Điều kiện làm việc : 2 người lớn, các loại dụng cụ như chuông, lúc lắc, trống, thanh la, kèn…

Một người lớn ở phía sau trẻ em, trong một lúc bất ngờ, tạo nên những tiếng động hay là những âm thanh khá mạnh.

Một người lớn quan sát trẻ em và ghi nhận kết quả. Nếu trẻ em có những phản ứng như giật mình, bịt tai, la ó…Hãy lại gần giải thích sự kiện, tạo an toàn và khen thưởng. Ví dụ ôm choàng trẻ em và nói : « Em nghe tiếng kèn rất lớn do cô C tạo nên, em giật mình, run rẩy, em thét la vì sợ…Như vậy, cô biết là em có lỗ tai rất thính, nghe rõ ràng. Cô mừng. Hoan hô em. Cô sẽ báo tin mừng cho cha mẹ của em…Để thưởng em, cô cho phép em chơi trò chơi nầy trong 5 phút, hay là ra chơi cầu tuột ».

2.-Bài học thứ hai : Phát hiện nguồn gốc của tiếng động và âm thanh.

Điều kiện làm việc vẫn giống như trong bài học một.
Người gây ra tiếng động hoặc âm thanh, sau khi ghi nhận phản ứng của trẻ em, lùi lại với những khoảng cách càng lúc càng xa, đối với vị trị hiện tại của trẻ em.

Người lớn có nhiệm vụ ghi nhận phản ứng của trẻ em, cần quan sát thêm : sau mỗi lần tiếng động xuất hiện, trẻ em có phản ứng quay đầu nhìn về phía tiếng động không. Phản ứng phát hiện nguồn gốc của tiếng động như vậy bắt đầu từ vị trí nào và chấm dứt ở vị trí nào, với âm thanh của dụng cụ nào.

Trong mỗi bài học, sau khi trẻ em có phản ứng, người lớn luôn luôn khen thưởng trẻ em, bằng cách phản ảnh hoàn cảnh đang xảy ra và bộc lộ cho trẻ em thấy nỗi niềm sung sướng và bằng lòng của mình. Tuyệt đối tránh xa những câu khen sáo cưởng như : « hoan hô, em giỏi lắm… » không có khả năng phản hồi cho trẻ em về giá trị hiện thực của mình. Đàng khác, những thái độ hôn hít lung tung, lộn xộn chỉ tạo nên cho trẻ em tình trạng lệ thuộc. Mục tiêu chính yếu của bài học bị đánh mất.
3.- Bài học thứ ba : Phản ứng khi được gọi bằng tên riêng của mình.

Thoảng hoạt trong ngày, cô giáo hay là cha me gọi trẻ em bằng tên riêng, từ nhiều vị trí khác nhau, như khi ở trước mặt, khi ở bên cạnh, khi ra xa, khi lại gần… Mỗi lần, ghi nhận phản ứng của trẻ em. Không quên khen thưởng, khi trẻ em bộc lộ phản ứng tích cực.
4.- Bài học thứ tư : « Hãy nhìn Mẹ (cô) đây này », và ghi nhận cách trẻ em trả lời, đáp ứng.

Vừa nói, vừa một tay giả bộ che mắt lại. Đưa ngón tay trỏ của tay kia chỉ vào miệng của mình.

Với trẻ em có nguy cơ Tự Kỷ, chúng ta hãy tập cho trẻ em bắt đầu nhìn miệng, trước khi em có thể nhìn thẳng vào mắt.
5.- Bài học thứ năm : Hiểu và Dừng lại khi người lớn nói « KHÔNG »

Khi trẻ em vừa khởi đầu một hành vi « rối loạn », như đánh một em khác, nhổ tóc…tức khắc nói « KHÔNG » một cách rõ ràng và nghiêm nghị.

Những cách làm :

– Khởi đầu càng sớm càng hữu hiệu, vừa khi hành vi mới « chớm nở, ló lên »,

– Vừa nói Không, vừa lại gần trẻ em,

– Chúng ta vừa tiến lại gần, nếu trẻ em còn tiếp tục, vừa đưa tay tách rời và cản ngăn hành vi. Tách rời khỏi đối tượng của hành vi (như trẻ bị đánh, đồ chơi bị ném xa…).

– Tuyệt đối không nói nhiều, để rồi trẻ em không hiểu rõ chúng ta muốn nói gì. Cho nên trong tình huống nầy, nhiều tác giả như Th. PEETERS đề nghị dùng ký hiệu « Cấm xe đi qua » (Bảng tròn đỏ có hình chủ nhật trắng ở giữa).

– Vừa nói Không, vừa đưa ngón tay làm dấu « Không ».

– Nếu trẻ em còn tiếp tục, cầm tay trẻ em và tách rời chính trẻ em ra khỏi đối tượng.

– Tuyệt đối không bảo ra ngoài, khỏi mặt chúng ta, hay là dùng kế « đánh trống lảng », bằng cách trao một đồ chơi, vì đó là những hình thức củng cố và tăng cường hành vi, thay vì giảm khinh, làm tan biến.

– Cách làm cuối cùng là cô lập trẻ em, trong vòng tay cứng rắn của chúng ta.

Chúng ta làm tất cả và trải qua những giai đoạn trên đây, với một tâm hồn tự tin, thanh thản, an bình, không một gợn ý đồ trừng phạt, áp chế và bạo động. Theo lối nói của Spencer JOHNSON, đó là món quà Tình Yêu « loại cương » ( hard love ), mà chúng ta đang trao tặng cho trẻ em. Chính Tình yêu loại cương nầy có khả năng tạo an toàn và cấu trúc hóa cho trẻ em. Nhờ đó, trẻ em có khả năng học được bài học phân biệt : « Tôi có thể làm được gì, và tôi KHÔNG CÓ PHÉP làm những gì, trong đời sống làm người. Hành vi hiện tại của tôi không được mẹ, cô chấp nhận. Tuy nhiên, mẹ và cô vẫn thương và kính trọng con người và giá trị của tôi ». Cũng nhờ vào ý thức nầy, sau khi làm những điều nhằm « hạn chế » trẻ em, chúng ta « không trách mình, không có mặc cảm tội lỗi, không lo buồn, trầm cảm ». Trong tiếng Anh, thuật ngữ thường được dùng, để diễn tả tâm trạng nội tâm có xu thế « tố cáo và trừng phạt mình, một cách lải nhải suốt ngày đêm » là « BURN-OUT », có nghĩa là bị thiêu rụi, bị đốt cháy thành tro tàn ». Hẳn thực, không ai ác độc với mình, bằng chính mình.

Một cách đặc biệt, bài học về từ « KHÔNG » cần được tổ chức thường xuyên với những trẻ em có hành vi :

– tự hủy,

– tấn công trẻ em khác,

– lặp đi lặp lại.
6.- Bài học : « Thôi, dừng lại »

Song song với bài học về từ « KHÔNG », có giá trị rất quan trọng, trong lãnh vực giáo dục và đời sống làm người, thoảng hoạt trong ngày, trong tuần, chúng ta cần tổ chức những trò chơi hay bài học « Dừng lại ».

Bài học nầy cần được tổ chức một cách tập thể, để những trẻ em đã tiến bộ có thể tác động và giúp đỡ những trẻ em bé dại.

Sau đây tôi xin giới thiệu một cách tổ chức « Ban Âm Nhạc », nhằm kích thích hoặc xúc tác tài năng sáng tạo của mỗi cha mẹ và giáo viên :

Phát cho mổi trẻ em một dụng cụ làm tiếng động, như gõ mõ, đánh trống, thổi kèn, quay lúc lắc…Ban đầu thầy hay cô làm nhạc trưởng ra lệnh cho trẻ em chơi, với bàn tay ra hiệu hay là dùng một bảng hiệu với một bên đèn xanh, bên kia dèn đỏ. Giải thích cho trẻ em hiểu về ý nghĩa của bảng hiệu hay là 2 cử chỉ « Bắt đầu » và « Dừng lại ». Một cô khác làm giám thị, có phần vụ trịch thu dụng cụ và loại ra ngoài vòng, khi trẻ em nào không thi hành đúng hiệu lệnh « Dừng lại ».

Sau khi mọi người đều hiểu trò chơi và biết chơi, lần lượt một em được gọi lên bệ cao làm nhạc trưởng, một em khác cũng đứng trên bệ làm giám thị.

Trò chơi nầy cần được tổ chức nhiều lần, với tất cả mọi trẻ em, nhất là với trẻ em có nguy cơ Tự Kỷ, cho đến khi mổi em thành tựu những khả năng sau đây :

– Biết dừng lại khi có hiệu lệnh,

– Biết điều khiển ban nhạc, với 2 mệnh lệnh « Bắt Đầu » và « Dừng Lại ».

– Biết phát hiện nhạc sĩ tí hon nào không tuân lệnh của nhạc trưởng.
7.- Bài học : « Hãy cho… »

Chuẩn bị và để sẵn trên bàn, gần trẻ em, những vật dụng như đồ chơi quen thuộc, con búp-bê, khối vuông, vòng tròn… Và gần chỗ của cô giáo, cũng có những vật dụng giống y hệt như vậy.

Để cho trẻ em làm quen và chơi với các vật dụng, trong một chốc lát. Sau đó, một tay đưa ra trước, làm cử chỉ XIN, cô giáo nói : « (Xuân) hãy cho cô con búp-bê ».

Đợi xem phản ứng của trẻ em.

Trường hợp trẻ em không hiểu, cô giáo cầm lên con búp-bê, với tay trái, và tay mặt đưa ra trước : « Xuân ơi, hãy cho cô con búp-bê ở gần bên cạnh của em ».

Nếu trẻ em vẫn chưa cho, chính cô giáo làm động tác cho : « Cô cho Xuân con búp-bê của cô … Và bây giờ, Xuân cho cô con búp-bê của Xuân đi ».

Với những trẻ em còn bé dại, một cô giáo hay người trợ tá ở đằng sau, hướng dẫn trẻ em bằng tay. Sau 2 hoặc 3 lần, chỉ hướng dẫn bằng ngón tay trỏ.

Sau khi tổ chức bài học nầy trong vòng 2-3 phút, dù có kết quả tích cực hay không, chúng ta dừng lại ca hát, làm việc khác. Nhiều lần trong ngày và nhiều lần trong tuần, chúng ta lặp lại bài học, cho đền khi trẻ em biết cách làm.

Từ khi đó, chúng ta thay đổi các vật dụng, mỗi khi lặp lại bài học.
8.- Bài học : « Hãy để xuống… »

Cách tổ chức bài học nầy cũng tương tự như trong bài học số 7.
Tiến trình :

– cô làm, trẻ em bắt chước.

– vừa ra lệnh bằng lời nói, vừa làm cử điệu bằng tay.

– Cô giáo ra lệnh, người phụ tá hướng dẫn trẻ em làm động tác « ĐỂ xuống ». Hướng dẫn bằng tay, cho đến khi trẻ em hiểu cần phải làm gì. Sau đó chỉ hướng dẫn bằng bộ điệu.

– Khi trẻ em đã biết làm, không còn hướng dẫn.

– Cô giáo hãy biết chờ đợi, đừng quá thúc giục một cách vội vàng, hối hả.

– Cô giáo hãy biết nhìn, quan sát, khích lệ bằng ánh mắt và điệu bộ, thay vì nói quá nhiều.

– Trước mỗi bài học, chuẩn bị người phụ tá về cách hướng dẫn.
9.- Bài học : « Hãy đến đây… »

Sau khi trẻ em đã biết đi, biết đứng, biết ngồi về mặt vận động, cô giáo dạy thêm bài học : « Hãy đến đây… ».

– Ban đầu, giữa cô và trẻ em chỉ có khoảng cách 2-3 mét, trẻ em nhìn thấy cô.

– Càng ngày càng kéo dài thêm khoảng cách, từ đầu phòng đến cuối phòng.

– Cuối cùng trẻ em không nhìn thấy cô, chỉ nghe tiếng cô gọi, từ một nơi khác : « Thu ơi, đến đây với cô ».
10.- Bài học : « Hãy Đứng lên, hãy Ngồi xuống… »

– Ban đầu vừa dùng lời nói, vừa làm dấu hiệu « Đứng » và « Ngồi ». Cô giáo ở trường và cha mẹ ở nhà cần thống nhất với nhau, trong cuốn sổ liên lạc tùy thân, về những cử điệu cơ bản nầy.

– Tổ chức bài học, với một người phụ tá ở bên cạnh trẻ em. Lúc đầu, sau khi nghe lệnh của cô giáo, cô phụ tá hãy làm, không cần chờ trẻ em. Sau khi trẻ em đã biết làm, làm sau trẻ em một chốc lát. Giả vờ quên làm một đôi khi, để xem trẻ em có nhắc cho mình hay không.

– Nếu trẻ em vẫn không làm theo, cô trợ tá hướng dẫn bằng tay, lần lần chuyển qua bằng cử điệu mà thôi.

– Vào giai đoạn cuối cùng, khi trẻ em đã hiểu và biết làm, cô giáo gọi trẻ em ra xa, tại nơi không có ghế ngồi, đoạn ra lệnh : « Hãy ngồi xuống », và quan sát phản ứng của trẻ em có biết tìm về chỗ ngồi của mình hay không ( hay là tìm một chỗ ngồi khác).
11.-Bài học : « Nhận biết những phần khác nhau của thân thể »

Cô giáo bảo trẻ em : « Đông ơi, đưa tay chỉ lỗ mũi nằm đâu ». Vừa nói, cô giáo vừa chỉ mũi của mình.

Nếu cần, nhờ người phụ tá ngồi bên cạnh trẻ em và hướng dẫn.

Từ từ giảm đi những điệu bộ và cách hướng dẫn.

Sau đây là những phần thân thể quan trọng :

– chân,
– cánh tay,
– tay,
– ngón tay,
– đầu gối,
– bụng,
– ngực,
– ngón tay cái,
– ngón tay trỏ

Cuối cùng tập cho trẻ em làm động tác CHỈ, với ngón tay trỏ mà thôi.
12.- Bài học : « Nhận biết và thực thi những động tác với các phần khác nhau của thân thể ».

Thể thức tổ chức bài học nầy hoàn toàn giống như các bài học trước : vừa nói, vừa làm, dùng thêm người hướng dẫn, cuối cùng cô giáo chỉ dùng lời nói mà thôi…

Sau đây là những động tác, mà trẻ em cần thu hóa và nhuần nhuyễn :

– đưa 2 cánh tay lên trên cao,
– đưa tay mặt vẫy qua vẫy lại,
– vỗ tay vào bàn,
– vòng tay lại,
– vỗ hai tay với nhau,
– đưa chân lên cao,
– khi ngồi, đưa chân nầy đụng chân kia,
– nắm tay lại thật chặt,
– mở tay ra,
– há miệng ra to, ngậm kín miệng lại,
– mở mắt ra, nhắm mắt lại…
13.- Bài học: “Nhận biết, phân biệt, cầm lấy và trao cho người khác, những dụng cụ, đồ vật quen thuộc, nhưng có hình thức khác nhau.

Để gần trẻ em một số dụng cụ, ban đầu sắp thành hàng 4-5 đồ vật tối đa. Dần dần tăng số lượng và đặt để các vật liệu tách rời khỏi nhau, nhưng không sắp xếp theo thứ tự.

Cách làm:

– “Em Châu, tìm và đưa cho cô trái banh”.
– Khen thưởng, khi trẻ em làm đúng.
– Nói “Không phải, đây là chiếc vòng. Em hãy nhìn và tìm trái banh”, khi trẻ em làm sai.
– Khi trẻ em làm sai nhiều lần (hơn 2 lần), chỉ giữ lại 2 dụng cụ rất quen thuộc mà thôi. Sau mỗi lần, thay đổi 2 dụng cụ nầy với 2 dụng cụ khác.
– Từ từ đi lên 3 rồi 4…
– Nguyên tắc cần thực hiện: tạo mọi điều để cho trẻ em thành tựu. Nếu cần, hãy trở lui với những giai đoạn mà trẻ em đã thành tựu một cách dễ dàng trước đây. Có thành tựu, trẻ em mới phát huy lòng tự tin, vui thích và hứng thú.
– Nguyên tắc thứ hai cần tôn trọng là không bao giờ quá kéo dài thì giờ làm việc và tăng lên độ khó quá nhanh chóng. Một cách vắn gọn, DỪNG LẬI, trước khi trẻ em bước qua NGƯỠNG CHỊU ĐỰNG.
– Nguyên tắc thứ ba là vừa làm vừa chơi, làm một cách hứng thứ như chơi. Và chính cô giáo hay là cha mẹ là trò chơi lớn lao nhất, có khả năng tạo vui thú cho trẻ em. Nhờ vậy trẻ em mới thích học để biết, như lòng mong đợi của cha mẹ và giáo viên…

14.- Bài học: “Kết hợp hai vật dụng lại với nhau”

– “ Em hãy bỏ chiếc banh vào TRONG hộp”…
– Đặt búp mê nằm TRÊN trên giường,
– Bỏ hạt cườm vào TRONG ly nhựa,
– Để cuốn sách lên TRÊN bàn viết,
– Xếp hình khối vào TRONG hộp nhựa…
Về cách tổ chức bài học, hãy đi theo những tiến trình như trước đây.

15.- Bài học: “Biết phân biệt để chọn lựa”

Trong bài học số 14 vừa qua, chỉ có 2 đồ vật cần liên kết lại với nhau.
Trong bài học nầy, có thêm một đồ vật thứ ba, để trẻ em học phân biệt trước khi chọn lựa, không thể làm theo thói quen.

– (con búp-bê, trái banh, cái hộp) : “Em hãy bỏ CHIẾC BANH vào trong hộp”.
– (hạt cườm, chiếc ly, cái thau): chiếc ly trong cái thau.
– (con gà, con bò, chiếc xách tay): con gà trong xách tay.

Trong bài 14, chú trọng vào vị trí.
Trong bài 15, chú trọng vào việc chọn lựa.
16.- Bài học: “Thay đổi những động tác…”

– ném xa trái banh,
– đưa chân đẩy trái banh ra trước,
– bỏ tờ giấy vào giỏ rác,
– há miệng ra,
– để cuốn sách trên bàn của cô,
– đi đóng cửa lại.

Lặp lại mỗi động tác 3-4 lần,
Tổ chức bài học nầy nhiều lần trong ngày và trong tuần, cho đến khi trẻ em không còn do dự.
17.- Bài học: “Sơ đồ Thân Thể”
Bài nầy tiếp nối các bài số 11 và 12. Ở đây, chúng ta chú trọng vào những thành phần thoát khỏi tầm mắt của trẻ em. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu, chúng ta vừa ra lệnh, vừa làm trên mình chúng ta, để giúp trẻ em vừa nghe, vừa nhìn, vừa bắt chước.
Sau khi trẻ em đã quen thuộc với cách làm, chúng ta chỉ dùng lời nói mà thôi.

“Em hãy lấy tay chỉ cho thầy…..”
– đầu,
– mắt,
– miệng,
– mũi,
– tóc,
– răng,
– lưỡi,
– lưng,
– ót.
18.- Bài học: “Di chuyển từ nơi nầy đến nơi khác…”

Trong giai đoạn đầu, có người phụ tá hướng dẫn.
Sau khi trẻ em đã làm quen với những nơi khác nhau trong lớp và gần lớp, chúng ta bảo trẻ em đến những nơi khác như phòng ăn, phòng tắm, lớp học của cô A, thầy B…

Một vài ví dụ:
– “Em hãy đi đến cửa ra vào…”
– đến cửa sổ,
– đến bàn viết của cô,
– đến phòng tắm,
– đến hồ bơi,
– đến nhà bếp…
Khi trẻ em di chuyển, người lớn đưa mắt xem chừng hay là nhờ người khác theo dõi.
19.- Bài học: “Đi đến một nơi và mang về một đồ vật từ nơi ấy”

Ví dụ:
– Em đi qua phòng ăn, lấy mang về cho cô một cái muỗng.
– Em ra chỗ treo áo, lấy chiếc mũ của em đem về đây.
– Em qua lớp của cô C, mời cô qua đây…
– Con ra ngoài vườn, mời ba vào ăn cơm,
– Con vào phòng khách, lấy cái ly cho mẹ…
20.- Bài học: “Phát âm, bắt chước các con vật quen thuộc…”

Khi trẻ em líu lo, bập bẹ một cách tự phát, người lớn bắt chước và khuyến khích trẻ em kéo dài thêm, một cách vui thú.
Bắt chước nhưng tiếng mèo kêu, chó sủa, chim hót, em bé khóc…
Tổ chức trò chơi với một vài trẻ em khác, để trẻ em bắt chước nhau, như giả bộ khóc hu hu, cười ha ha, thút thít.

Các bài viết tham khảo:

canthiepsomhcm.edu.vn biên soạn

 

Recommended Posts

Leave a Comment