Nội dung dạy trẻ bằng phương pháp Teacch dành cho lứa tuổi: 3 – 4 tuổi

Dạy trẻ bằng phương pháp Teacch (phần 4) H/ả: sưu tầm
1. Bắt chước
1.22. Bắt chước (vừa hát vừa làm) những cử điệu: đặt tay lên đầu, lên đầu gối, đằng sau lưng.
1.23. Nắn đất sét thành hình và gọi tên: một cái đĩa, một vòng đeo tay, một cây kem.
2. Nhận thức
2.40. Sắp xếp 5 hình khối lại với nhau, giống như những bản mẫu đề nghị. Khi bạn trình bày bản mẫu, yêu cầu trẻ chú ý nhìn xem. Sau đó khuyến khích trẻ làm, với 5 hình khối của mình: “Bây giờ đến phiên em làm”.
*. Hình thứ nhất: 2 khối bên trái chồng lên nhau và 2 bên mặt chồng lên nhau và đứng sát 3 khối bên trái.
*. Hình thứ hai: 2 bên trái, 2 ở giữa và 1 bên mặt sát kề nhau.
*. Hình thứ ba: 4 hình phối hợp lại thành một hình vuông ở dưới, 1 hình khối ở trên, đúng chính giữa.
2.41. Lấy những tấm bìa cứng và chắc, cắt ra nhiều loại hình tròn, tam giác và vuông, cùng cỡ và cùng một màu như nhau. Mỗi loại khoảng 3-5 tấm.
*. Giai đoạn một, yêu cầu trẻ xếp vào ba hộp ba loại hình khác nhau, tròn theo tròn, vuông theo vuông…
*. Giai đoạn hai, gọi tên các hình cho đúng.
*. Giai đoạn ba, bảo trẻ: “Đưa cho cô một hình vuông…”
Tập đi tập lại cho đến khi trẻ hiểu và làm được.
2.42. Trong bài học này, mỗi hình có nhiều cỡ khác nhau: lớn, vừa, nhỏ.
*. Một: Chỉ dùng một loại hình mà thôi, sắp xếp theo 3 cỡ khác nhau.
*. Hai: Kết hợp 2 tiêu chuẩn hình và cỡ lại với nhau.
Có thể dùng cách làm lắp ráp hình con lồi vào các hình mẹ lõm.
2.43. Lắp ráp số 1: Lắp ráp 3 hình con vào 3 hình mẹ. Trẻ nào biết nhìn, quan sát trước khi làm sẽ thành công dễ dàng.
2.44. Lắp ráp số 2: Lắp ráp các loại hình tròn, tam giác, chữ nhật, sáu cạnh…
2.45. Phân chia 8 dụng cụ khác nhau thành 2 loại, bằng cách bỏ vào 2 đĩa khác nhau.
Phân biệt màu sắc số 1: Giáo viên bỏ vào đĩa bên trái một vật dụng màu đỏ và nói: Đỏ. Sau đó bỏ vào đĩa bên phải một vật dụng màu khác, và gọi màu ấy.
Ví dụ: Xanh. Sau đó từ từ trao cho trẻ những vật dụng khác. Khi trẻ làm không đúng, im lặng lấy ra lại, để trước mặt trẻ và nói: Bên trái, màu đỏ. Bên phải: màu xanh.
2.46. Phân biệt màu sắc số 2: Trong 8 hình vuông cùng một cỡ giống nhau, 4 màu trắng, 4 màu đen. Đĩa bên trái dùng cho màu đen. Đĩa bên phải dùng cho màu trắng. Nếu trẻ làm được một cách dễ dàng, thêm vào 4 hình vuông có màu khác. Lần này chỉ để 3 chiếc đĩa trước mặt trẻ, và bảo: hãy xếp theo màu: đỏ với đỏ… Khi trẻ làm sai, không đưa ra nhận xét Đúng hoặc Sai. Chỉ thinh lặng rút ra hình đặt sai chỗ để trước mặt trẻ: “Hình này màu xanh, ở với các hình màu xanh. Em hãy nhìn cho rõ”. Với những em làm được quá dễ dàng, thử thêm vào một hình với màu khác. Vàng chẳng hạn. Không thêm chiếc đĩa khác.
Hãy quan sát cách làm của trẻ với hình màu vàng xem trẻ bỏ vào đâu?
2.47. Bắt chước phân biệt âm thanh. Gõ xuống mặt bàn hoặc 1 hoặc 2 hoặc 3 lần. Sau mỗi lần gõ, bảo trẻ: Hãy làm như cô, gõ đi. Nếu trẻ chưa hiểu, cầm tay hướng dẫn, cho đến khi trẻ hiểu. Sau khi trẻ làm được, chúng ta tìm cách, không cho trẻ thấy, chỉ nghe.
3. Vận động thô 3.72. Bước lên cầu thang, mỗi chân một cấp (khác với 3.59. Lên từng bậc một).
3.73. Vượt qua 5 chướng ngại vật trên đường đi tới (xem 3.56). Đi theo đường quanh co của một sợi dây, nhắc tới, nhắc lui để trẻ đi theo đường dây, vừa đi vừa nhìn. Chướng ngại một: cúi xuống, bò qua dưới một chiếc bàn thấp. Chường ngại hai: bước qua một chiếc gậy dài chặn ngang đường. Chướng ngại ba: bò qua một đường hầm làm bằng những chiếc thùng giấy kiên cố. Chướng ngại bốn: lách mình đi ngang qua một eo hẹp ở giữa hai chiếc tủ. Chướng ngại năm: bước từ một tấm gỗ này qua tấm gỗ khác, mà không “ướt chân”, rơi vào suối nước.
3.74. Làm con nhái nhảy 10 bước liên tục mà không té nhào. Ban đầu giải thích cho trẻ nhảy nhái là làm thế nào: khom lưng xuống, co đầu gối lại, chứ không ngồi trệt, và nhảy tới trước. Với các em nhỏ, có người đỡ đằng sau lưng, nhất là khi mới bắt đầu.
3.75. Nhảy với 1 hoặc 2 chân trên một khoảng dài. Lúc đầu tập nhảy tự do, nhảy về hướng nào cũng được. Sau khi trẻ đã biết cách làm, 1) nhảy theo một đường dài 4 mét được vạch sẵn bằng dây hay bằng băng nhựa, 2) nhảy hai chân và hai tay dang ngang vai, 3) nhảy với một chân mà thôi, 4) sau 5 mét, thay đổi chân và trở về chỗ cũ, 5) nhảy 2 chân, hai tay đưa lên cao trên đầu.
3.76. Làm những cử điệu vừa bằng tay, vừa bằng chân cùng một lúc. Ban đầu quỳ xuống, hay tay đụng mặt đất. Trẻ và người lớn cùng làm với nhau, cùng nhìn về một phía. 1) Dang một tay lên cao trên đầu và bỏ xuống 2) Đưa một chân thẳng lui đằng sau. 3) Vừa đưa chân phải ra sau, vừa đưa tay phải ra trước 4) Vừa đưa chân trái ra sau, vừa đưa tay trái ra trước 5) Tay phải ra trước và chân trái ra sau 6) Tay trái ra trước và chân phải ra sau.
3.77. Lăn tròn toàn thân tới trước 3 mét, lăn về phía bên phải. Sau đó, lăn tròn trở lại, về phía trái.
3.78. Trên một đoạn dài 5 mét có đánh dấu rõ ràng bằng băng nhựa hay bằng cách nào khác tương tự, 1) đi bằng cách đạp chân lên băng nhựa, không bước ra ngoài, 2) đi giật lùi, ngó đằng sau, 3) đi ngang không chéo chân, 4) đi tới trước, bằng cách đạp chân trái xuống bên phải, và đạp chân phải xuống bên trái đường băng nhựa, 5) nhảy hai chân dính vào nhau qua bên phải rồi qua bên trái và đồng thời tiến tới phía trước, 6) đi ngang bằng cách chéo chân lại với nhau.
4. Vận động tinh 4.112. Dùng ngón tay trỏ để lướt theo những đường viền, hay là những đường vẽ sẵn. Thay đổi những loại đường khác nhau, trên những diện tích cừng và mềm khác nhau. Hay là vẽ trên những khay hộp trải cát mịn.
4.113. Xếp giấy. Xếp một tờ giấy A4 thành 4 đường dọc và 4 đường ngang.
4.114. Dùng kéo có mũi tròn, để trẻ tập cắt tờ giấy theo những đường dọc và ngang, như đã được xếp loại ở (4.113).
5. Phối hợp mắt – tay 5.134. Dùng 3 yếu tố trong loại đồ chơi Lego và kết ráp lại với nhau. Bạn làm trước và yêu cầu trẻ làm theo bạn. Chỉ giúp đỡ, hướng dẫn, khi trẻ không biết phải làm gì.
5.135. Dùng đất sét công nghiệp làm thành 3 loại vật dụng đơn sơ như: viên bi, một cái đĩa tròn, một cái nhẫn hay là cái vòng đeo tay. Bảo trẻ nhìn và bắt chước làm theo. Giúp đỡ, hướng dẫn, nếu trẻ không biết làm gì.
5.136. Lần này đặt trước mặt trẻ 3 đồ vật làm mẫu: cái đĩa tròn, cái chén và quả bóng nhỏ. Chúng ta có thể dùng hình ảnh, thay vì dùng vật cụ thể. Yêu cầu trẻ lấy đất sét nắn thành 3 hình, giống như các mẫu trước mặt. Đặt sát kề nhau 3 cái đĩa vừa được nặn ra và gọi tên “Đĩa”. Cũng làm như vậy với các vật khác được nắn ra như: chén, quả bóng…
5.137. Kết ráp lại với nhau những thành phần thuộc về một bộ phận, một toàn thể. Trong bài học này, chúng ta làm việc với những hình ảnh do chúng ta vẽ hay là cắt ra từ các loại báo, và dán vào trên một mảnh giấy cứng, hình chữ nhật, lớn bằng 1/4 tờ giấy A4, được cắt ra thành 2 phần theo đường thẳng hay xiên, chiều ngang hoặc chiều dọc. Ban đầu dùng những hình ảnh khá quen thuộc, như chiếc bàn chải đánh răng, cái cốc uống nước, quả cam có sẵn trong môi trường sinh hoạt hằng ngày.
Mỗi hình ảnh gồm có 2 bản. Bản mẫu để trước mặt trẻ, nguyên vẹn, không được cắt ra thành nhiều phần. Bản thứ hai được cắt ra thành 2-3 phần, theo đường dọc, ngang, hay chéo.
Bảo trẻ nhìn vào mẫu và ghép lại cho đúng. Dần dần, cất bản mẫu, để trẻ tìm cách hình dung và ghép lại. Trẻ càng làm tốt, chúng ta càng thêm độ khó, bằng cách trộn 2 hoặc 3 hình ảnh lại với nhau, để trẻ có thể quan sát, so sánh và suy nghĩ.
Bài học này rất quan trọng trong vấn đề kích thích và phát huy khả năng hình dung, so sánh và suy nghĩ của trẻ.
Mỗi giáo viên nên sáng tạo riêng cho lớp học của mình, một bộ hình như vậy, phân chia thành nhiều cấp độ từ dễ đến khó, từ đơn sơ gồm có 2 phần đến phức tạp, với 3-4 phần.
5.138. Dùng kẹp gắp nước đá, để gắp lại và nhả ra những khối vuông, những viên sỏi. Bảo trẻ dùng cách làm này, để sắp thành hàng những viên sỏi hoặc hình khối vào các hộp đựng trứng gà, theo thứ tự từ trái sang phải.
5.139. Dùng bút phớt nối 2 điểm lại với nhau, theo chiều ngang, từ trái qua phải. Ban đầu, chuẩn bị những tờ giấy có 2 điểm thật đậm và rõ ràng trên mỗi hàng, cách xa nhau chừng 2cm. Càng biết làm, trẻ càng tập nối 2 điểm mỗi lúc một xa nhau hơn.
5.140. Nối lại những điểm làm thành vòng tròn, đi theo đường ngược chiều với kim đồng hồ. Sau đó nối lại những điểm, làm nên một khuôn mặt hay là một chiếc xe ô tô.
6. Tư duy 6.178. Dùng hình khối xây lên một tháp cao. Thứ nhất, trẻ em một mình tự do xây, cao bao nhiêu cũng được. Thứ hai, cùng làm với cô giáo. Cô dùng màu gì thì trẻ dùng màu ấy.
6.179. Xếp từng hai đồ vật đi cùng với nhau, như thìa và dĩa, giày và tất, bàn chải và kem đánh răng…
6.180. Xếp lại với nhau những đồ vật cùng thuộc một chức năng giống nhau, như đồ dùng để đi tắm, đồ dùng để đi chợ.
6.181. Xếp lại với nhau những vật dụng trên bàn cơm, những đồ để mặc.
6.182. Xem (6.178). Em hãy đưa cho cô hình khối màu vàng, hình khối màu đỏ. Đem cho cô chiếc mũ đỏ, mũ xanh… Với những bài học này, trẻ vừa củng cố những kỹ năng đã học, vừa nới rộng khả năng ghi nhận ngôn ngữ.
6.183. Với những vật dụng quen thuộc, thêm vào những vị trí: Ở trên, ở dưới, trong, trước, sau, bên cạnh… Hãy đi tìm cho cô bút chì trên bàn viết. Đi lấy cái cốc trong tủ và mang tới cho cô. Bắt đầu với những nơi quen thuộc, trong lớp học. Sau đó chúng ta nới rộng qua các chỗ ngoài lớp học.
7. Ngôn ngữ 7.210. Phân biệt lớn và nhỏ.
7.211. Phân biệt đàn ông – đàn bà, trai – gái.
7.212. Hiểu rõ ở trên – ở dưới.
7.213. Tập chọn lựa: em muốn cái này hay cái kia?
7.214. Trả lời những câu hỏi thông dụng: Mua gì? Đi bằng cách nào? Chỗ nào? Chúng ta dùng tranh ảnh cắt ra từ các báo chí, để nói chuyện với trẻ.
7.215. Nói, trình bày ý của người này cho người khác.
Mẹ: con ra vườn mời bố vào ăn.
Khi bé V đến gần mình, đặt câu hỏi: Mẹ bảo con ra nói gì với bố?
Để tạo điều kiện cho người kia đặt đúng câu hỏi, người thứ nhất trao cho trẻ một mẩu giấy, tóm tắt điều mình muốn nói, để trẻ cầm theo.
7.216. Biết số lượng Nhiều – Ít.
8. Tự lập 8.239. Mở và gài nút số 2.
Sau khi tập và đã làm được trên những dụng cụ được chế tạo, trẻ cần ứng dụng với áo quần trên thân thể của mình, nhất là vào các dịp đi tắm hồ bơi.
Với những trẻ còn vụng về, có một buổi để thực tập chung trong lớp học.
8.240. Tập rót nước, từ chai hoặc bình vào trong các cốc, chén lớn hoặc nhỏ khác nhau.
Kẻ ngoài ly những mức khác nhau, để tập cho trẻ biết dừng lại, biết vừa rót vừa theo dõi, xem chừng.
8.241. Sử dụng bàn chải đánh răng.
Ban đầu cô giáo và trẻ cùng làm trước gương.
Tập cho trẻ dùng bàn chải đẩy lui đẩy tới, đi lên đi xuống, theo hình tròn.
9. Quan hệ xã hội 9.255. Chơi múa rối. Thầy cầm trong tay con rối, đi lại gần em Huy, giả giọng và nói:
*. Mình chào Huy (đưa tay con rối cho Huy bắt).
Huy đang ở đâu đây?
*. Bạn bên cạnh Huy tên là gì vậy?
*. Mẹ của Huy bây giờ ở đâu?
Nếu trẻ trả lời được, chờ cho trẻ nói hết câu. Sau chừng vài câu, trao con rối vào tay của trẻ và bảo: Bây giờ Huy chơi làm con rối và thầy trả lời.
Nếu trẻ chỉ làm, không nói, chúng ta nói thay trẻ điều trẻ đang làm:
*. Huy đang vuốt ve mặt mình. Huy dễ thương quá. Hãy vuốt tóc mình đi.
*. Bạn Huy thật cừ khôi. Cứ chọc nhột mình. Ơ, ơ nhột quá.
*. Huy đang dọa tôi, tôi sợ quá. Thôi thôi, đừng dọa tôi, tôi muốn chơi với Huy. Huy dễ thương mà.
9.256. Trò chơi giả bộ.
Thầy đi xung quanh bé Việt, hai tay giả bộ đưa lên lái xe.
Miệng phát âm: “Vrừm, vrum, vrum”, mời khách lên xe.
Vrum, vrum… mời khách xuống xe.
Sau đó, thầy bảo Việt: Bây giờ Việt lái xe. Làm đi.
Giúp bé Việt lái xe đi quanh.
Chúng ta sáng tạo những trò chơi ngắn như vậy, với những gì xảy ra trong ngày, và yêu cầu trẻ làm theo với vài ba điệu bộ và phát ra vài âm thanh.
9.257. Tập lau bàn.
Cùng lau bàn với cô, như cô, bên cạnh cô.
9.258. Trò chơi cho và nhận.
Soạn sẵn một hộp kẹo và yêu cầu chị em trong nhà giúp mình.
*. Cô cho ai, người ấy nhớ nói “cám ơn”.
*. Đến phiên ai phụ tá cho… Nhắc em Ty: em cám ơn đi.
*. Sau cùng trao cho bé Hoài một hộp có 4-5 cái kẹo và bảo bé Hoài đi cho bạn bè.
*. Những người lớn có mặt vừa nhận kẹo, vừa cám ơn.
9.259. Soạn bàn ghế. Cô giáo sắp 5 chiếc ghế đủ cho 5 em học sinh trong lớp.
Trước khi soạn bàn cơm. Hỏi trẻ Vân: Chỗ này ai ngồi? Chỗ ngồi của em đâu? Chỗ cô ngồi đâu?
Sau đó đưa cho bé Vân một cái đĩa: đĩa này để ở chỗ của Vân. Đĩa này ở chỗ của B. Đĩa này ở chỗ của C.
Và cứ như vậy, trẻ đi theo thứ tự ngược lại với kim đồng hồ.

Các bài viết tham khảo:

 

canthiepsomhcm.edu.vn biên soạn từ tài liệu Gs. Nguyễn Văn Thành

Recommended Posts

Leave a Comment