Nội dung dạy trẻ bằng phương pháp Teacch dành cho lứa tuổi: 2 – 3 tuổi

Dạy trẻ bằng phương pháp Teacch (phần 3)

1. Bắt chước
1.15. Bắt chước vỗ tay.
1.16. Bắt chước dùng đất sét công nghiệp, để chơi 2 cách khác nhau, như vo tròn lại hay là trải ra.
1.17. Bắt chước đụng đến 2 phần cơ thể cùng một lúc như: một tay đụng đầu, tay kia đụng ngực – mũi và lỗ tai – tóc và miệng – tai và bụng – đầu và mũi.
1.18. Bắt chước mở và ngậm miệng, đưa miệng qua phải và qua trái mà vẫn giữ yên không động đậy đầu và trán.
1.19. Bắt chước dội bóng trên nền nhà, dùng chiếc thìa nhỏ gõ vào cốc hoặc chén trà, lăn quả bóng về một hướng, trải dài và rộng đất sét ra trên mặt bàn, lấy thìa khuấy tròn trong chiếc cốc, vo tròn đất sét thành nhiều viên bi, ném quả bóng lên cao.
1.20. Bắt chước đặt con búp bê vào giường, hay vào nôi và lấy giấy làm mền đắp lên mình, lấy khăn lau mũi cho búp bê, lấy thìa đút cơm cho búp bê, lấy cốc cho búp bê uống.
1.21. Bắt chước những tiếng kêu của loài vật quen thuộc như chó: gâu gâu, mèo: meo meo, bò mẹ: bọ bờ, bò con: be be, ruồi: vù vù.
2. Nhận thức
2.37. Mỗi tấm hình có 2 bản giống nhau. Tấm thứ nhất: Một gạch ngang lớn và đậm nét. Tấm thứ hai: Chữ “X” hoa lớn và đậm nét. Tấm thứ ba: một hình tròn đậm nét. Xếp thành đường ngang ba tấm hình khác nhau, trước mặt trẻ. Trao cho trẻ một trong 3 tấm hình còn lại và bảo: Tấm hình này giống tấm nào, thì em để lên trên tấm ấy.
2.38. Đặt để trước mặt trẻ hai dụng cụ phát ra âm thanh như: 1 cái chuông và 1 chiếc còi.
Giai đoạn một: cho phép trẻ khám phá mỗi dụng cụ tùy ý. Giai đoạn hai: đằng sau một tấm màn che, bạn rung một tiếng chuông và hỏi trẻ: tiếng gì vậy? Yêu cầu trẻ làm lại với dụng cụ có sẵn trước mặt, cho đến khi trẻ hiểu và làm đúng. Giai đoạn ba: dần dần thêm vào 2 hoặc 3 dụng cụ khác. Giai đoạn bốn: trong giai đoạn ba, chọn những âm thanh hoàn toàn khác nhau. Trong giai đoạn bốn, chọn những âm thanh gần giống nhau, để tập cho trẻ biết phân biệt.
2.39. Khoét 2 hình khác nhau trên một nắp hộp lớn: hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn. Giai đoạn một: cho phép trẻ thử tự do. Giai đoạn hai: trao cho trẻ chỉ một hình và quan sát cách làm của trẻ. Giai đoạn ba: đưa cho trẻ lấy một hình, nhưng vẫn giữ hình ấy trong tay, không đưa cho trẻ. Chúng ta chỉ yêu cầu trẻ tìm bằng mắt. Trẻ chỉ đạt yêu cầu khi tìm bằng mắt trước khi bỏ đúng chỗ, không dò dẫm, thử làm từ chỗ này qua chỗ khác.
3. Vận động thô 3.66. Tập trẻ đứng trên một chân trong vòng 5-6 giây. Ban đầu người lớn làm cho trẻ thấy: một tay vịn vào chiếc ghế, tay kia để dọc theo thân mình. Đồng thời co một chân lên. Khi trẻ đã hiểu và làm được, chúng ta cất chiếc ghế ra xa và đưa ngón tay trỏ cho trẻ cầm và co chân lên. Dần dần, trẻ không còn cầm ngón tay của người lớn.
3.67. Tập đưa chân đẩy mạnh quả bóng ra trước. Bên cạnh một vách tường, dùng những hộp giấy cứng làm thành một con đường có lề kín. Bạn ngồi trên một chiếc ghế ở một đầu. Đầu kia trẻ ngồi. Bạn đưa chân lấy quả bóng về phía trẻ. Và bảo trẻ đưa chân đẩy mạnh quả bóng về phía bạn.
3.68. Đứng trên đầu ngón chân. Ban đầu bạn làm cho trẻ thấy. Sau đó, bạn cầm hai tay của trẻ, nâng lên và bảo trẻ đứng trên đầu các ngón chân. Khi trẻ đã hiểu cách làm, bạn chỉ cầm một tay của trẻ. Dần dần, bạn đưa ngón tay cho trẻ cầm. Cuối cùng, khuyến khích trẻ làm một mình.
3.69. Nhảy lên, đưa tay đụng vào một đồ vật. Ban đầu cầm hai cánh tay phía trong, gần sát vai của trẻ, nâng lên và để xuống cho trẻ làm quen và tập nhảy lên cao. Sau đó, treo một đồ chơi phía trên và bảo trẻ nhảy lên cao, đánh mạnh vào đồ chơi.
3.70. Lăn quả bóng tròn để lật đổ những chiếc hộp chồng lên nhau. Bau đầu giữ khoảng cách khoảng 3 mét. Lấy băng nhựa làm một lằn ranh không được vượt quá. Dần dần ta tăng khoảng cách lên.
3.71. Ném những bao cát nhỏ vào trong một cái thùng, từ một lằn ranh nhất định. Trẻ càng biết làm, chúng ta càng tăng dần khoảng cách.
4. Vận động tinh 4.106. Tập cho trẻ chơi thổi bong bóng với nước xà phòng.
4.107. Dùng những chai nhựa, để trẻ tập mở và đóng nắp chai. Sau đó dùng các loại nắp khác với các đồ dùng khác.
4.108. Tập cho trẻ làm nhiều cử động khác nhau với tất cả 5 ngón tay hay là với mỗi ngón tay: xếp lại, mở ra từng ngón tay, lấy tay này vuốt dài ra từng ngón của tay kia, làm chỉ một tay hay làm cả hai tay những cử điệu như con rối.
4.109. Tập kéo dây từ trái qua phải hay là từ phải qua trái, để mở ra hoặc đóng lại màn cửa sổ. Có thể dùng những trò chơi kéo dây ra để gây tiếng động hay âm nhạc…
4.110. Bóp mạnh những quả bóng bằng mút hoặc bằng cao su.
4.111. Dùng kẹp để kẹp trên bờ miệng của một chiếc hộp. Sau đó lấy ra bỏ vào hộp. Tập dùng hai ngón tay cái và trỏ, để làm những cử động như mở và đóng các cái kẹp áo quần.
5. Phối hợp mắt – tay 5.129. Dùng hạt chuỗi bằng gỗ hoặc bằng nhựa, cỡ lớn, xỏ vào một trục thẳng đứng, cắm chặt vào một mặt gỗ. Tay trái giữ trục. Tay phải lấy từng hạt chỗi xỏ vào trục.
5.130. Lần này, thay vì dùng một trục thẳng đứng, trẻ làm việc với một sợi dây xỏ giày. Một đầu dùng để xỏ, đầu kia cột chặt vào một hạt chuỗi cố định, để giữ các hạt chuỗi lại với nhau.
5.131. Cũng giống như trên, nhưng lần này dùng 2 loại hạt với hai màu sắc khác nhau. Sau hạt đỏ xỏ hạt xanh.
5.132. Dùng 6 chiếc kẹp với 6 màu sắc khác nhau, đã kẹp sẵn vào bờ miệng của một chiếc hộp ở bên trái. Trước mặt trẻ, trên một tờ giấy, có 6 hình ngôi sao với 6 màu khác nhau, giống như màu sắc của chiếc kẹp. Yêu cầu lần 1: lấy một chiếc kẹp – bất cứ chiếc nào – ra khỏi bờ miệng chiếc hộp và bỏ vào giữa ngôi sao cùng màu. Yêu cầu lần 2: nhìn màu của ngôi sao bên trái và chọn đúng chiếc kẹp. Đi từ trái sang phải. Dùng nhiều tờ giấy vẽ nhiều ngôi sao theo những thứ tự khác nhau.
5.133. Dùng một cái khay có bờ thành cao. Đổ cát hoặc bột vào khay. Yêu cầu trẻ dùng ngón tay trỏ bên phải, vẽ những đường dọc ngang trên bột, tùy ý thích. Dần dần cho trẻ gạch đường dọc, đường ngang.
6. Tư duy 6.172. Xếp loại (Xem lại 6.168). Trong bài học xếp loại này, những hình thức cụ thể, bên ngoài có thể thay đổi, nhưng có một tên gọi giống nhau, như bàn, ghế, cây, nhà…
6.173. Phân biệt những gì thuộc loại “đồ ăn”, những gì thuộc “đồ uống”. Tìm những hình ảnh trong các loại báo, hay là quảng cáo… và cắt ra.
6.174. Hiểu và làm những yêu cầu gồm có hai động tác đi theo như: đi tìm cái cốc và để lên bàn.
6.175. Xem lại 6.168 và 6.172. Trong bài này, trẻ học xếp loại theo “phần vụ hay là chức năng”, vật này dùng để làm gì? Đồ ăn gồm có những thứ… Đồ uống… Đồ chơi… Đồ mặc…
6.176. Xếp loại các hình tròn, vuông, tam giác, chữ nhật có 4 tiêu chuẩn khác nhau: lớn – nhỏ, dày – mỏng, màu sắc, hình thể. Với bài học khá phức tạp này, trẻ đi vào các lĩnh vực tư duy trừu tượng.
6.177. Phân biệt và gọi tên 3 con vật quen thuộc: mèo, chó, bò.
7. Ngôn ngữ 7.203. Diễn tả nhu cầu và ước muốn:
Nhu cầu là những gì cần được người lớn đáp ứng, giúp đỡ như đi vệ sinh, đói, khát… Khi trẻ ước muốn, trái lại, người lớn chỉ tạo điều kiện, giúp trẻ tự mình thực hiện, được bao nhiêu hay bấy nhiêu.
Người lớn không bói đoán, không làm thay, làm hộ tất cả những gì trẻ đã có thể làm một mình. Tập trẻ diễn tả ra ngoài. Tập cho trẻ xin, thay vì đòi hỏi.
Tập đưa tay làm dấu, thay vì khóc la, dậm chân hay là đánh đập… Chúng ta tìm cách dạy những điều này càng sớm càng tốt.
Khi trẻ em “chậm nói”, cung cấp những đồ vật cụ thể hay là hình ảnh, để trẻ diễn tả. Ví dụ, cầm cốc: tôi khát. Cầm thìa: tôi đói. Cầm hình cầu trượt: tôi muốn đi ra chơi ngoài sân. Đó là những “câu nói” với một từ, một hình ảnh.
7.204. Tập cho trẻ biết chọn lựa. Khi trẻ đói, muốn ăn, chúng ta đưa ra quả táo và trái chuối, cho trẻ thấy. Sau đó, đặt câu hỏi: Em muốn cái gì trong hai? Em chọn gì? Trẻ không được tự ý lấy cho mình. Trẻ phải diễn tả hay là dùng một ký hiệu, để xin.
7.205. Nhận biết áo, quần, mũ… của bạn nào trong lớp.
Cách làm thứ nhất: lấy mũ của tất cả các học sinh trong lớp, để trên bàn và hỏi: “Mũ này của ai?”.
Cách làm thứ hai: Hỏi từng em: “Mũ của em đâu, chỉ cho cô biết? Mũ của bạn A đâu?”.
Cách làm thứ ba: Trao cho em D bốn chiếc mũ và bảo: Mũ của bạn nào, đem phát cho bạn ấy.
7.206. Hiểu câu hỏi và trả lời “Dạ”, “Không”.
Hỏi về những gì trẻ đã biết rõ: Có phải đây là cái cốc không? Thay đổi câu hỏi, để trẻ có thể trả lời “không”: Cầm cái cốc và hỏi: Có phải đây là cây bút chì không? Trường hợp trẻ chưa có ngôn ngữ, dùng những cử điệu hay là ký hiệu đã được ấn định với trẻ: Cầm lên tấm giấy “trắng”: Phải, dạ, đúng. Tấm giấy “đen”: Không.
7.207. Biết tên của các con loài vật, như gà, vịt, chó, mèo… Dùng 4 hình ảnh, để trước mặt trẻ. Gà đâu? Tìm cho cô.
7.208. Biết tên của các đồ dùng hàng ngày. “Đi lấy cho cô…”.
7.209. Đặt câu hỏi đơn giản: Ai? Làm gì?
Dùng từng cặp hình ảnh: Con mèo + ngủ, còn chó + nhảy, mẹ + ở nhà, ba + đi làm. Nếu trẻ chưa nói, nhưng đã hiểu, chúng ta đưa ra một câu có hai vế, như các ví dụ trên đây, và yêu cầu trẻ tìm 2 hình ghép lại hay là để cạnh nhau.
8. Tự lập 8.232. Tập dùng dĩa để ăn.
Ban đầu tập dùng dĩa nhựa mổ lấy những thức ăn như cà rốt luộc, thịt… đem lên miệng và ngậm lại, đoạn rút dĩa khỏi miệng và đặt sấp xuống lên đĩa.
8.233. Biết phân biệt đồ ăn và những vật khác không ăn được, như hình khối, những hòn sỏi…
Vào lúc ban sáng độ 10 giờ hay là ban chiều khoảng 15 giờ, trước khi về nhà, chúng ta đặt trước mặt trẻ, ba hoặc bốn vật như trên. Bảo trẻ: Hãy ăn đi. Nếu trẻ đưa tay lấy một vật không ăn được, chúng ta lập tức đặt câu hỏi: Hình khối có ăn được không? Với cách làm này, mỗi ngày 2 lần, chúng ta tập cho các em còn nhỏ dại biết phân biệt vật nào ăn được và vật nào không. Chúng ta dùng những đồ vật lớn, để tránh trẻ bỏ vào miệng, không có gì nguy hiểm.
8.234. Học mặc quần áo.
Trước khi dạy mặc theo thứ tự trước sau, chúng ta dạy trẻ biết mặc từng thứ một, bắt đầu từ các thứ đơn giản như may ô, quần lót, áo sơ mi, quần đùi và sau cùng là quần dài.
Ví dụ:
1) Xỏ tay phải vào tay áo bên phải.
2) Dùng tay trái kéo áo ra sau và đem qua trái.
3) Xỏ tay trái vào tay trái của chiếc áo.
8.235. Mặc quần dài.
1) Phân biệt phía trước và phía sau,
2) Ngồi xuống trên ghế, xỏ chân phải vào ống quần bên phải,
3) Xỏ chân trái vào ống quần bên trái,
4) Cầm lưng quần với cả hai tay và đứng lên.
5) Kéo quần lên ngang bụng.
Cứ tập tới tập lui nhiều lần từng mỗi giai đoạn. Tạm hoãn vấn đề gài nút hay là kéo khóa trong một bài học khác.
8.236. Tập đi vệ sinh.
Đây là vấn đề có liên hệ đến thể diện và giá trị của trẻ. Cho nên, chính chúng ta hãy biết kính trọng trẻ, thậm chí khi có những rủi ro xảy ra.
Chỉ thay quần áo cho trẻ, tại phòng vệ sinh hay phòng tắm.
Không tỏ ra khinh dễ hay là vui đùa vào những lúc này, nhất là khi cô giáo lo cho những trẻ em trai, và thầy giáo lo cho trẻ em nữ, vì trách nhiệm.
Không chê trách, trừng phạt hay là la lối.
Cách làm:
1) Mỗi giờ nhắc trẻ ngồi bô 5 phút. Không bao giờ quên trẻ trong phòng vệ sinh.
2) Ban đầu ghi nhận những rủi ro xảy ra vào lúc nào, để đề phòng cho những lần sau.
3) Cần đặt trẻ còn bé ngồi bô, trước mỗi bữa ăn, trước khi đi chơi ra ngoài hay là trước và sau giờ nghỉ trưa.
8.237. Lau mặt và thân mình với chiếc khăn.
Chúng ta lợi dụng lúc tắm gội cho trẻ, để dạy trẻ dùng khăn, lau bằng xà phòng, những nơi kín đáo.
8.238. Tập mở và gài nút số 1 (Làm khuy lớn để tập cài như cài cúc)
Làm tấm bìa có hai vạt, một bên có 4 lỗ, một bên có 4 nút tròn, cỡ lớn.
Yêu cầu trẻ cài lần lượt tương ứng nút vào lỗ.
Tập nhiều lần, với nhiều cỡ nút khác nhau.
9. Quan hệ xã hội 9.251. Giúp đỡ bạn bè. Nếu ở bàn ăn, học sinh dùng khăn giấy, để lau miệng, sau bữa ăn, yêu cầu một em đi nhặt từng chiếc khăn rơi, bò vào thùng rác một cách tươm tất. Và khi trẻ làm được điều ấy ở trường, yêu cầu cha mẹ ở nhà cũng để còn thực hiện những việc như vậy, vào những ngày nghỉ.
9.252. Chơi trốn tìm.
Ở nhà hoặc ở trường, trẻ có thể học chơi trốn tìm với cha mẹ và với cô giáo.
Mẹ và con có thể cùng đi trốn với nhau và người cha đi tìm.
Ở những khu vườn công cộng, công viên, chúng ta cũng có thể tổ chức trò chơi này, nếu có những người khác phụ giúp chúng ta.
9.253. Bắt chước cô và mẹ.
Khi mẹ tắm cho con, trao cho con một con búp bê nhựa và một găng tay. Khi mẹ gội đầu cho con, hãy bảo con: con hãy gội đầu cho búp bê của con, giống như mẹ đang làm cho con.
9.254. Biết chờ tới phiên của mình.
Cùng ngồi chơi với trẻ ở bàn hay là trên mặt đất. Hai thầy trò cùng xây một tháp cao, với những khối vuông hay là với những tảng gạch lớn làm bằng chất mút nhẹ, có bọc vải cứng. Thầy đặt một tảng. Trò đặt tảng khác lên trên. Sau hai ba lần, cả trò lẫn thầy đứng nhìn công trình xây cất của mình.
Yêu cầu trẻ giữ đúng phiên của mình: “Không phải phiên em. Bây giờ là phiên của thầy”.
Chúng ta cũng có thể tổ chức trò chơi xây cất này với 2 hoặc 3 trẻ.

Các bài viết liên quan:

canthiepsomhcm.edu.vn biên soạn từ tài liệu Gs. Nguyễn Văn Thành

Recommended Posts

Leave a Comment