Nội dung dạy trẻ bằng phương pháp Teacch dành cho lứa tuổi: 1 – 2 tuổi

Dạy trẻ bằng phương pháp teacch (phần 2)
1. Bắt chước
1.5. Yêu cầu trẻ dùng tay hay ngón tay để trả lời, khi chúng ta hỏi: Mũi của em đâu? Tóc đâu? Miệng? Mắt? Lỗ tai?
1.6. Vỗ tay (vừa nhìn người lớn vừa làm theo).
1.7. Đưa tay lên. Đưa tay xuống. Đưa tay ra ngoài.
1.8. Sử dụng 3 đồ vật, giống như người lớn, để tạo nên một âm thanh: Rung chuông, thổi còi, quay chiếc “lúc lắc”.
1.9. Làm theo người lớn: ngậm miệng, mở miệng, đưa miệng ra trước, mỉm cười, dùng lưỡi liếm môi trên, môi dưới.
1.10. Lấy bút màu vẽ tự do lên trang giấy lớn, không vượt ra ngoài.
1.11. Bắt chước chải tóc với chiếc lược, lấy khăn lau mặt, dùng bàn chải răng.
1.12. Biết cách dùng của 5 vật thông thường như: quả bóng nho nhỏ, chiếc xe ô tô, tách trà, bàn chải đánh răng, chiếc gương soi.
1.13. Bắt chước tiếng động của ba đồ dùng quen thuộc như: đồng hồ reo, chuông, xe ô tô, xe lửa…
1.14. Gạch đường ngang trên giấy, từ trái qua phải.
1.15. Bắt chước vỗ tay.
2. Nhận thức
2.34. Đưa ra cho trẻ thấy chiếc dép thứ nhất và tập trẻ đi tìm chiếc thứ hai. Cũng như vậy, bảo trẻ đi tìm cái cốc thứ hai. Và lần thứ ba là chiếc xe ô tô. Mấy lần đầu, vật thứ hai sẵn có trước mặt trẻ. Dần dần, chúng ta cất giấu các vật thứ hai cùng cặp ở nhiều chỗ khác nhau, ngoài tầm mắt của trẻ. Khi trẻ đã có nhiều tiến bộ, chúng ta chỉ dùng ngôn ngữ: “Chiếc dép kia ở đâu? Đi tìm cho cô”.
2.35. Lần đầu, chúng ta dùng 3 cái cốc có 3 màu sắc và hình thể hoàn toàn khác nhau, lật sấp lại trước mặt trẻ em. Chúng ta lấy ra một chiếc kẹo và cất giấu dưới một chiếc ly, dưới mắt của trẻ. Đoạn chúng ta hỏi trẻ: “Kẹo ở đâu?”
Lần thứ hai, sau khi trẻ đã thành công trong lần thứ nhất, chúng ta dùng 3 chiếc cốc hoàn toàn giống nhau.
Lần thứ ba, chỉ dùng 2 chiếc cốc, sau khi cất giấu kẹo, chúng ta thay đổi chỗ hai chiếc cốc với nhau, trước mắt của trẻ. Sau đó hỏi: “Kẹo ở đâu?”.
2.36. Trên mỗi tấm giấy cứng hình vuông, có tô sẵn 4 hình vuông nhỏ giống nhau, theo 4 cách khác nhau:
1) 4 hình vuông nhỏ ở 4 góc của hình vuông.
2) 4 hình vuông ở giữa mỗi cạnh và làm thành một hình thoi.
3) 4 hình vuông nhỏ sắp thành một chữ “L” hoa
4) 4 hình vuông nhỏ sắp thành một chữ “T” hoa
Hãy để một tấm hình có tô sẵn trước mặt trẻ.
Trao cho trẻ một khối nhỏ, và bảo trẻ đặt để hình khối trên hình vuông đã được vẽ sẵn. Chúng ta đưa tay chỉ rõ cho trẻ biết rõ. Đến ô thứ tư còn lại, chúng ta chờ xem trẻ có biết làm tiếp hay không.
3. Vận động thô 3.54. Cho và nhận quả bóng với người lớn.
3.55. Tập bước lên trên những chướng ngại nho nhỏ, như những tấm ván dày và rộng.
3.56. Đi theo đường quanh co của sợi dây thừng. Sau khi trẻ đã biết nhìn và đi theo đường dây, thêm những chướng ngại: đi ở dưới bàn, đi trên một chiếc cầu, đi quanh bàn và lách qua một kẽ hẹp.
3.57. Cúi xuống nhặt lên những đồ chơi rải rác trên sàn nhà.
3.58. Lấy giấy màu bọc lại đàng hoàng những chiếc hộp đựng giày và để rải rác trên nền nhà. Bảo trẻ đi tìm và mang đến. Sau đó, tập cho trẻ chất lên từng chồng cao, ngang tầm mắt. Bảo trẻ đưa chân làm rơi xuống. Hãy kết thúc trò chơi, bằng cách sắp xếp lại cho có thứ tự vào một nơi nhất định.
3.59. Đi lên thang lầu, từng cấp một. Chân phải bước lên trước và chân trái bước lên sau. Ban đầu, trẻ cầm tay người lớn. Dần dần, chỉ cầm tay. Sau đó, cầm một đầu sợi dây, đầu kia do người lớn cầm.
3.60. Người lớn và trẻ cùng ngồi trên nền nhà, mặt đối mặt, cách nhau chừng 2 mét, hai chân mở rộng khoảng 90 độ. Hai bên chuyển qua chuyển lại cho nhau một quả bóng. Nếu trẻ còn nhỏ (dưới 1 tuổi), có một người lớn ngồi đằng sau trẻ, để giúp đỡ và hướng dẫn.
3.61. Trẻ ngồi trên mặt đất, cách vách tường độ 1 mét. Ban đầu, người lớn ngồi sau trẻ. Tập trẻ lăn quả bóng vào tường khá mạnh, để quả bóng bật trở lại. Trẻ em chú ý nhìn theo, nhận bóng và tiếp tục.
3.62. Tập đi theo một đường thẳng được chỉ định. Lấy băng nhựa có màu hay là một sợi dây thừng làm một đường dài và thẳng từ 2-6 mét. Cuối đường, để một đồ chơi mà trẻ thích. Ban đầu trẻ cầm tay người lớn để đi từ đầu đến cuối đường. Sau đó trẻ chỉ cầm một đầu sợi dây và đi theo. Dần dần, trẻ đi một mình.
3.63. Cũng một con đường như trên từ 5 mét trở lên. Lần này, trẻ đi ngang một bên, hay là đi lùi, vừa đi vừa ngước nhìn đằng sau.
3.64. Trẻ và người lớn ngồi bên cạnh nhau, cùng nhìn một hướng giống nhau. Hai chân duỗi thẳng dài ra trước. Hai tay đụng đầu gối và từ từ cúi xuống đụng vào 10 ngón chân, mà không xếp cong đầu gối lên trên. Ban đầu, nếu trẻ còn nhỏ, một người lớn thứ hai ngồi phía sau, đưa hai chân kẹp giữ trẻ, đồng thời hướng dẫn trẻ nhìn, làm theo như người lớn bên cạnh.
3.65. Để các đồ chơi của trẻ vào các ngăn kéo của một cái tủ thấp, vừa tầm trẻ. Chúng ta kéo mở các ngăn kéo, cho trẻ thấy đồ chơi bên trong. Sau đó tập cho trẻ mở kéo ra và đẩy vào nhiều lần. Sau khi dạy trẻ mở ra và đóng lại các ngăn tủ như vậy, chúng ta không bao giờ để những đồ nguy hiểm vào các ngăn kéo này.
4. Vận động tinh 4.97. Tập dùng tay, để chơi với đất sét.
1) Vo tròn thành những con giun dài.
2) Dùng hai ngón tay cái và trỏ để cắt con giun thành những khúc nho nhỏ độ 1 cm và bỏ vào trong một cái cốc
4.98. Tập ăn một mình. Trẻ đã học cầm thìa ở bài học 4.94. Trong bài học này, trẻ cầm thìa để múc gạo hay lúa từ chén này qua sang chén khác.
4.99. Dùng hai ngón tay trỏ và cái để nhặt lên những đồng tiền và bỏ vào một hộp nhỏ có kẽ hở phía trên.
4.100. Dùng hai tay để mở ra một hộp đựng giày, một hộp diêm loại lớn, một hộp sữa có nắp nhựa. Điều quan trọng là trẻ học mở ra bằng nhiều cách khác nhau, tùy đồ vật.
4.101. Học cho và nhận. Vừa đưa tay và nói: đưa cô bút chì…
4.102. Chế tạo một bảng có 3 bóng điện màu xanh, đỏ và vàng, có 3 nút bấm khác nhau cho mỗi bóng đèn, và có một sợi dây điện dài có nút cắm vào công tắc. Ngồi đằng sau trẻ để hướng dẫn mở và tắt đèn. Soạn trước những ký hiệu trên những tấm giấy cứng: (+) là mở đèn và (-) là tắt đèn. Ba hình tròn màu đỏ, xanh và vàng. Đợt một: tập mở và tắt. Đợt hai: mở và tắt mỗi màu đèn. Đợt ba: kết hợp cả hai hiệu lệnh: tắt hoặc mở một trong ba loại đèn.
4.103. Dùng một chai bằng nhựa và những chiếc tất người lớn, để trẻ học mang tất vào và lấy tất ra. Biết bên nào trái, bên nào phải.
4.104. Ngồi sau trẻ để hướng dẫn xếp giấy: hai lần xếp dọc và hai lần xếp ngang, với mỗi tờ giấy.
4.105. Dùng bút màu lớn (loại phớt), để cho trẻ vẽ xuôi ngược tùy thích. Tập vẽ giới hạn trong và trên tờ giấy, không vượt ra ngoài, không vẽ bẩn trên tay chân và áo quần.
5. Phối hợp mắt – tay 5.123. Lấy từng chiếc vòng nhựa treo vào một cái trụ thẳng đứng gắn chặt vào một cái đế. Đi theo thứ tự từ trái qua phải.
5.124. Dùng 4 khối vuông xây lên một tháp cao, bằng cách chồng khối này lên khối kia. Yêu cầu trẻ xem chừng cho chiếc tháp đứng thẳng và vững vàng.
5.125. Dùng một hộp nhựa lớn, có nắp đậy kín. Khoét một ô vuông vừa kích thước của các khối vuông. Trong một đĩa nhựa bên trái, có 4 khối vuông giống nhau. Bảo trẻ lấy từng khối bỏ vào ô vuông và làm rơi xuống dưới đáy hộp.
5.126. Từ từ cắm từng chiếc đũa vào trong hộp đũa. Không cắm hai ba chiếc một lượt. Nếu trẻ làm được dễ dàng, yêu cầu trẻ phân biệt hai đầu đũa khác nhau. Quay đầu ô vuông xuống dưới.
5.127. Làm gần như trên, cắm bút chì trên nắp một hộp có khoét sẵn những lỗ nhỏ vừa kích thước của ngòi bút chì. Yêu cầu trẻ cắm từ trái qua phải, không nhảy lộn xộn.
5.128. Trên một tờ giấy có vẽ sẵn 3 hình tròn từ trái qua phải. Yêu cầu trẻ dùng bút chì màu, vẽ 2 hoặc 3 gạch ở trong hình tròn, không vượt ra ngoài. Đi từ trái qua phải.
6. Tư duy 6.165. Cô đang cầm vật gì đây? Tìm trong các vật trên bàn, có con gấu giống như vậy không? Ban đầu chỉ bày 3 vật tối đa. Dần dần tăng lên.
6.166. Trong bài trên chỉ dùng vật dụng thực sự hoàn toàn giống nhaui. Trong bài này, dùng 2 vật dụng tương tự, khác nhau, khác cỡ lớn nhỏ. Cuối cùng dùng hình ảnh.
6.167. Trong bài này, không còn dùng vật dụng cụ thể hay là dùng hình ảnh để giải thích điều cô mong muốn. Cô chỉ dùng ngôn ngữ mà thôi.
6.168. Học xếp loại. Ở bên trái, trong một hộp, trộn lẫn vào nhau 4 cây bút chì, 4 quả bóng nhỏ và 4 chữ vần A, B, C, D. Trước mặt trẻ có 3 đĩa. Ban đầu, trong đĩa số 1 bên trái, chúng ta để sẵn cây bút chì, trong đĩa số 2 quả bóng nhỏ, trong đĩa số 3 mẫu tự C. Chúng ta bảo trẻ: “Em xếp lại các đồ vật với nhau, theo loại: bút chì với bút chì”.
6.169. Xác định vị trí (đi tìm và mang đến). Trong lớp học vật nào cũng có một chỗ nhất định. Bảo trẻ: “Em cất con gấu ở đâu? Đi tìm và mang đến cho cô”. Khởi đầu với những dụng cụ được đặt ở ngoài. Sau đó, đi tìm các vật trong các tủ, các hộp.
6.170. Trước đây, trẻ đã học cho. Trong bài này, trẻ học làm việc với bạn bè. Học cho, cho ai, người ấy tên gì. Bảo trẻ: “Em hãy đem ngòi bút này cho bạn N. Em đem quả bóng này cho bạn S…”. Chúng ta lợi dụng cơ hội này để dạy các em khác trả lời: “Cám ơn”.
6.171. Hiểu một số động tác (dùng động từ): chạy, ngồi, nằm, lau, mở, đóng. Có hai cách làm bổ túc cho nhau. Thứ nhất là yêu cầu trẻ làm những động tác cụ thể hàng ngày. Thứ hai là dùng những hình ảnh, để tập cho trẻ nhận biết những động tác quen thuộc: Mẹ nấu cơm, Mẹ ủi áo quần, Bố làm vườn… Chúng ta có thể dùng máy ảnh, để ghi lại những sinh hoạt khác nhau ở trường học.
7. Ngôn ngữ 7.196. Tiếng chào hỏi, khi tiếp xúc: “Ạ”. Vừa phát ra âm thanh, vừa làm điệu bộ chào, cất mũ. Chào tạm biệt, vẫy tay và làm dấu “chào, hôn”.
7.197. Phát âm tên của mình. Đem trẻ tới đứng trước tấm gương, cô giáo hỏi: “Ai trong đó?”. Tập cho trẻ trả lời bằng tên riêng của mình.
7.198. Bắt chước những âm thanh trong môi trường xung quanh, như xe ô tô: rầm rầm. Máy bay: ồ ồ. Ruồi: vù vù. Chó: gâu gâu. Mèo: meo meo.
7.199. Những động từ thông thường: ăn, uống, chơi, ngủ…
7.200. Nhìn hình và gọi tên những người trong gia đình (sau khi trao đổi với cha mẹ).
7.201. Tập hát những bài hát nho nhỏ, như “Voi vỏi vòi voi, cái vòi đi trước…”.
7.202. Tập trẻ em xin ăn “thêm”, uống “thêm”.
8. Tự lập 8.228. Cầm thìa ăn một mình:
Trước tiên, dạy trẻ cầm và giữ cẩn thận chiếc thìa trong tay, để lấy đồ ăn. Trong những lúc ban đầu, dùng những loại đồ ăn mà trẻ yêu thích, như kem, bột khoai tây. Hướng dẫn trẻ múc đồ ăn và đưa lên miệng. Tay bạn cầm tay trẻ ở khớp xương và từ từ lên dần cho tới cùi chỏ. Tay bạn nới lỏng dần dần. Khi nào trẻ biết ăn một mình thì không cần giúp nữa.
Để gần trẻ một dấu hiệu. Và giải thích cho trẻ biết rằng khi đặt tay vào đó có nghĩa là không còn muốn ăn nữa. Chúng ta tôn trọng lời từ chối của trẻ. Tôn trọng nghĩa là không ép buộc, nài nỉ hay là “lập tức trở lui”, đút lại cho trẻ ăn, vì lo sợ trẻ đói.
8.229. Từ khi trẻ biết ăn bằng thìa một mình, không còn cho phép dùng tay.
Nếu trẻ dùng tay, tức khắc cầm đĩa đẩy ra xa đằng trước. Không nhượng bộ ở điểm này, vì sợ trẻ đói. Cách làm của chúng ta “không trước sau như một” sẽ làm cho trẻ rối loạn, mất tự tin, không hòa nhập (tuân theo) những quy tắc (phép tắc).
8.230. Khi trẻ đã biết cầm cốc mà uống (xem 8.227), bạn chỉ rót từ 1/4 đến 1/2 cốc.
Thỉnh thoảng trẻ làm đổ nước ra ngoài, vì vô ý, chúng ta không quá quan trọng hóa vấn đề. Thái độ căng thẳng, lo âu của người lớn là một cách tạo căng thẳng và lo âu cho trẻ. Cho nên kết quả sẽ đi ngược lại với điều mong muốn.
Trong lĩnh vực sư phạm và giáo dục, chúng ta làm việc “có ý định, chương trình và kế hoạch quy mô, tổ chức”. Tuy nhiên, tình trạng “siêu ý định, siêu ý chí” diễn tả một tâm trạng bất an. Cho nên trẻ tự kỷ “bị lây”, vì tâm trạng mất an toàn và quá lo âu nơi chúng ta.
8.231. Thay quần áo, tháo tất khỏi chân.
Ban đầu, dùng một chai nhựa với chiếc tất cỡ lớn của đàn ông, tập mang vào và lấy ra. Sau đó, áp dụng trên chân của mình.
9. Quan hệ xã hội 9.248. Trò chơi cưỡi ngựa gỗ.
Người lớn ngồi sau lưng trẻ và đẩy ngựa nhảy tới nhảy lui. Ban đầu đẩy nhè nhẹ. Vừa làm, vừa phát âm “hốp hốp”. Càng lúc càng gia tăng tốc độ cho đến khi trẻ tỏ ra thoải mái, bình tĩnh. Nếu trẻ tỏ vẻ căng thẳng, co quắp, chúng ta giảm tốc độ.
Sau đó, người lớn xuống khỏi ngựa và đứng bên cạnh, yêu cầu trẻ chơi một mình.
9.249. Tập cho trẻ hôn bạn bè và người lớn. Cô giáo đến ngồi bên cạnh bé Liên với con búp bê. (Xem 9.246).
Sau khi bé Liên đã cho phép búp bê hôn mình và đã hôn búp bê, cô giáo bảo bé Liên: Bây giờ cô làm con búp bê. Cô muốn Liên cũng hôn cô như đã hôn con búp bê. Nếu bé Liên từ chối, cô giả bộ khóc, để xem phản ứng của bé. Nếu bé Liên vẫn còn lo sợ, ngại ngùng, cô giáo ngưng lại, chờ thử lần khác.
Sau khi bé Liên chấp nhận hôn và được hôn, bảo bé Liên chào hôn bạn bè lúc ban sáng, khi gặp lại nhau. Và khi có cha mẹ, anh chị em đến thăm bé Liên tại trường, bảo bé đến chào hôn mẹ, hôn ba, hôn chị em.
Nhiều người sẽ có nhận xét là chúng ta bắt chước kiểu Âu Tây. Chúng ta hãy mỉm miệng cười và trả lời: cái gì có lợi ích thực sự cho một trẻ tự kỷ, tôi sẵn sàng bắt chước kẻ khác, không chút ngại ngùng, mặc cảm.
9.250. Đưa qua đưa lại một chiếc xe ô tô, hay một quả bóng.
Cô giáo và trẻ ngồi xuống sàn nhà. Cô đẩy chiếc xe tới cho trẻ. Và yêu cầu trẻ đẩy xe lại cho cô.
Có thể dùng 2 sợi dây, mỗi người cầm một sợi và kéo chiếc xe về phía mình.
Mỗi lần ra đường, thay vì cầm tay kéo trẻ, chúng ta cũng có thể dùng một chiếc vòng nhỏ, để giữ trẻ bên cạnh mình, nhất là ở những nơi đông người, có xe cộ qua lại. Cô giáo cầm một bên. Trẻ cầm phía kia. Chúng ta cũng có thể dùng sợi dây.

Các bài viết tham khảo:

canthiepsomhcm.edu.vn biên soạn từ Gs. Nguyễn Văn Thành

Recommended Posts

Leave a Comment